Hệ thống sà lan thức ăn và camera
Sà lan thức ăn là trung tâm sản xuất nổi được neo đậu dọc theo một cụm lồng nuôi, mang theo các silo, máy thổi hoặc trục vít, và hệ thống điều khiển cung cấp thức ăn viên qua các ống dẫn đến từng lồng nuôi; hệ thống camera bao gồm camera âm thanh nổi dưới nước và camera phát hiện thức ăn viên kết hợp với các nguồn cấp dữ liệu về hành vi trên bề mặt, cho phép người vận hành kiểm soát việc cho ăn từ xa. Một sà lan thông thường lưu trữ từ 200 đến 1.000 tấn qua các silo, hỗ trợ từ 6 đến 16 lồng nuôi và ghi lại mọi sự kiện cho ăn để theo dõi tỷ lệ chuyển đổi thức ăn. Camera phát hiện các viên thức ăn thừa chìm qua tầm nhìn và kích hoạt chế độ tự động ngắt, đây cốt lõi của việc tối ưu hóa thức ăn: việc cho ăn được kiểm soát bằng camera hiện đại thường tiết kiệm từ 5 đến 15 phần trăm lượng thức ăn so với chỉ dùng hẹn giờ, giúp cải thiện trực tiếp FCR và giảm tải lượng hữu cơ dưới đáy biển bên dưới lồng. Sà lan cũng tập trung hóa việc theo dõi oxy, phát điện và đôi khi là thu gom cá chết, biến chúng thành nút dữ liệu của trang trại. Các khái niệm liên quan bao gồm hiệu suất chuyển đổi thức ăn, mật độ nuôi làm thay đổi nhu cầu giữa các lồng, và oxy hòa tan, do việc cho ăn sẽ tự động bị giảm khi oxy giảm xuống dưới ngưỡng khoảng 6 đến 7 mg/L đối với cá hồi.