Hệ thống canh tác lúa-tôm
Mô hình canh tác lúa-tôm luân canh hoặc nuôi kết hợp lúa nước với tôm nước lợ, phát triển mạnh nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nơi một đến hai vụ lúa và một vụ tôm cùng chia sẻ một diện tích ruộng mỗi năm. Các ruộng được thiết kế với đê bao xung quanh cao hơn, các mương giữ nước sâu hơn (mương từ 0.8 đến 1.5 m), cửa cống lấy nước có lưới chắn và cống điều tiết để độ mặn có thể được nâng lên 10 đến 25 ppt trong giai đoạn nuôi tôm và xả ngọt để trồng lúa. Vòng quay luân canh khai thác các điều kiện tối ưu theo mùa đối nghịch: lúa được trồng vào mùa mưa khi nước ngọt làm loãng ruộng, và tôm (thường là tôm sú Penaeus monodon hoặc tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei) được thả với mật độ 5 đến 15 con/m2 vào mùa khô khi độ mặn xâm nhập, thường sử dụng thức ăn chi phí thấp kết hợp với năng suất tự nhiên. Năng suất thu được ở mức vừa phải cho mỗi loài-thông thường từ 0.3 đến 1 tấn/ha tôm cộng với 4 đến 6 tấn/ha lúa-nhưng hệ thống này giúp phân tán rủi ro, đa dạng hóa thu nhập, giảm chi phí thức ăn và hóa chất, đồng thời duy trì độ phì nhiêu của đất vì chất thải từ tôm bón phân cho vụ lúa kế tiếp. Các hạn chế bao gồm việc quản lý độ mặn tại giao diện lúa-tôm, sự xâm nhập của cua và động vật ăn thịt qua lưới chắn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật gây chết tôm, và nhu cầu lên lịch cấp thoát nước cẩn thận với các ruộng lân cận. Đây là một ví dụ tiêu biểu cho ngành nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu, ít sử dụng đầu vào ngoại lai được tích hợp vào nông nghiệp vùng ven biển.