Tỷ lệ Protein trên Năng lượng

Tỷ lệ protein trên năng lượng (P:E) thể hiện lượng protein được cung cấp trên một đơn vị năng lượng trong khẩu phần ăn, theo kinh điển là số gram protein trên mỗi MJ năng lượng tiêu hóa (DE), và nó quyết định xem năng lượng tiêu thụ được phân bổ cho tăng trưởng hay bị lãng phí. Tỷ lệ P:E tối ưu cho sự tăng trưởng thường là 19-25 g protein trên mỗi MJ DE đối với cá ăn thịt như cá vược và cá hồi (khoảng 40-45% protein ở mức 17-19 MJ/kg), và 16-20 g/MJ đối với cá ăn tạp. Nếu năng lượng quá cao so với protein, cá sẽ ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng nhưng lại thiếu hụt lượng protein hấp thụ, do đó tốc độ tăng trưởng chậm lại; nếu protein quá dư thừa so với năng lượng, các axit amin sẽ bị khử amin và bị đốt cháy như một nguồn nhiên liệu đắt đỏ, làm tăng lượng amonia bài tiết. Tỷ lệ này thay đổi theo kích cỡ cá và nhiệt độ: cá lớn hơn và nước lạnh ưa chuộng mật độ năng lượng cao hơn, trong khi cá nhỏ lớn nhanh cần tỷ lệ protein lớn hơn tương ứng. Trong thực tiễn công thức thức ăn, P:E là ràng buộc cốt lõi liên kết các mức protein thô và lipid, đồng thời đây là lý do tại sao việc đơn thuần tăng lượng chất béo để cắt giảm chi phí cuối cùng sẽ phản tác dụng thông qua việc giảm lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn. Khái niệm liên quan nhưng có sự khác biệt là tỷ lệ năng lượng axit amin cân đối được sử dụng trong phần mềm tối ưu hóa axit amin, nơi mỗi axit amin thiết yếu (EAA) được kiểm tra đối với năng lượng. Các trang trại trải nghiệm gián tiếp một tỷ lệ P:E không đúng thông qua sự tăng trưởng không ổn định giữa các mẻ nuôi, gan nhiễm mỡ và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không tương xứng với tỷ lệ phần trăm protein đã công bố của thức ăn.

Tỷ lệ Protein trên Năng lượng
ảnh: Brandon Antonio Segura Torres & Priscilla Vieto Bonilla / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

Điều khoản liên quan

Được tham khảo trong bài viết