Nuôi cá bơn Thái Bình Dương

Cá bơn Thái Bình Dương (Hippoglossus stenolepis) và loài họ hàng ở Đại Tây Dương đã là đối tượng của hàng chục năm nghiên cứu nhằm thương mại hóa nghề nuôi cá bơn, nhưng sản lượng vẫn ở quy mô nhỏ so với các loài cá thân tròn do đặc tính sinh học của cá bơn khó mở rộng quy mô: ấu trùng trải qua quá trình biến thái phức tạp từ dạng bơi lội đối xứng sang hình dạng cá con sống ở đáy không đối xứng, một giai đoạn dễ bị dị tật bộ xương và tỷ lệ chết cao nếu nhiệt độ, ánh sáng và cho ăn không được kiểm soát chặt chẽ trong suốt quá trình kéo dài nhiều tuần. Cá con được ương nuôi nằm phẳng dưới đáy bể thay vì bơi tự do trong cột nước, đòi hỏi thiết kế bể nông, diện tích bề mặt lớn chuyên dụng, rất khác biệt so với các loại bể tròn dùng cho phần lớn các loài cá xương, và quá trình nuôi thương phẩm đến kích cỡ thị trường 2-5 kg mất vài năm ở điều kiện nhiệt độ lạnh (6-12°C) mà loài này yêu cầu, chu kỳ dài hơn nhiều so với hầu hết các loài cá nuôi khác. Các hệ thống RAS trên cạn và hệ thống dòng chảy qua chiếm ưu thế trong sản xuất thương mại hiện có, do tập tính thích nằm trên nền đáy cứng và độ nhạy cảm với thao tác xử lý khiến việc nuôi lồng bè gặp nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật. Sự kết hợp giữa tốc độ sinh trưởng chậm, việc ương nuôi ấu trùng khó khăn và cơ sở hạ tầng chuyên biệt đã khiến cá bơn Thái Bình Dương trở thành một loài nuôi thủy sản thích hợp, gắn liền với nghiên cứu thay vì là một mặt hàng chủ lực mặc dù nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đánh bắt tự nhiên rất mạnh.

Nuôi cá bơn Thái Bình Dương
ảnh: Suhayl091 / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

Điều khoản liên quan

Loài liên quan